Cuối năm, ăn, ngắm, và nghe Vũ Bằng dẫn lối về Hà Nội xưa

3128

Vào những ngày tháng cuối cùng của một năm, bên cạnh những phút giây liên hoan với gia đình, bạn bè, trong không khí rộn ràng đón năm mới, chẳng còn gì tuyệt hơn là dành cho mình một góc, lắng đọng thả hồn về Hà Nội xưa với “Thương nhớ mười hai” của nhà văn tài ba Vũ Bằng.

“Thương nhớ mười hai” là một tập kí tiêu biểu cho phong cách viết rất lãng mạn và giàu chất thơ của Vũ Bằng. Con số mười hai trong tiêu đề tác phẩm là mười hai tháng trong một năm (theo lịch Âm). Dù là tác phẩm viết về một năm nhưng Vũ Bằng đã phải mất tới ngót mười một năm trời mới có thể hoàn thành tuyệt bút ấy. Tác phẩm là sự đúc kết, tập hợp những cảm xúc, suy nghĩ trữ tình của một tiểu tư sản thế kỉ mười chín khi xa quê mới thực sự thấm thía cái đẹp và tình yêu của mình đối với xứ Bắc. Toàn bộ tập kí được ghi lại theo hồi ức, ấy thế mà cảnh vật, con người vẫn hiển hiện sống động, chân chất, đủ để thấy nỗi nhớ nhung cảnh cũ người xưa trong lòng Vũ Bằng lớn đến nhường nào.

Ngẫu hứng, say mê, cuốn hút, những câu văn của tác giả dẫn lối người đọc đến từng ngóc ngách của phố phường Hà Nội khi xưa, khêu gợi thị giác qua những câu văn viết như vẽ, huyễn hoặc người đọc vào thế giới hồi ức mà đôi khi còn thực và sống động hơn cả thế giới mà tác giả đang sống. Đặc biệt, tháng nào trong “Thương nhớ mười hai” cũng làm “đốn tim” người đọc với những miếng ngon Hà Nội bát ngát hồn quê. Những câu văn gợi tình kích thích vị giác của ta, bắt ta phải một lần đi thử để xem thức quà ấy nó thần thánh ra sao mà Vũ Bằng lại có được thứ văn chương đắm say đến thế.

Đọc “Thương nhớ mười hai”, ta mới nhận ra mình “thiếu thốn” so với đời trước quá! Ừ thì cứ cho mình hơn họ ở cái tiện nghi, hiện đại, nhưng liệu chúng ta có bao giờ vớ được một cái sâu kén khi chèo cây tìm ổ trứng chim? Có bao giờ ta biết cách phân biệt trái bàng đực với cái và thưởng thức hương vị bùi bùi của chúng? Có bao giờ ta được ngồi lấy tăm nhể bọng cà cuống chơi, thưởng thức cái hương vị đặc biệt của tinh dầu lẫn thịt cà cuống? Có bao giờ ta được đi bẫy chim ngói, tiếc thương cho con chim nhưng rồi cũng rồi không thể kìm hãm được trước “chim ngói nhồi hạt sen”, “chim ngói xáo măng”, “chim ngói úp chõ xôi nếp cái mới”? Vẻ đẹp mộc mạc trong nếp tranh nghèo của quê hương Việt Nam xứng là một nét văn hóa, một nét đẹp tiềm ẩn mà những kẻ suốt đời sống trong nhung lụa khó có thể hiểu được.

Nhưng đẹp nhất và quý nhất có lẽ là hình ảnh người vợ Quỳ của tác giả. Người vợ ấy như chứa đựng tất cả vẻ đẹp của một người phụ nữ truyền thống: trung hậu, đảm đang, son sắt nhưng cũng rất hiện đại, học thức. Người vợ ấy làm cho mỗi tháng, mỗi mùa của nhà văn tròn trịa hơn: Tháng hai quạt than nướng chả cá anh Vũ Việt Trì, tháng tư muối một chũm cà, đong đậu nấu chè, tháng năm đồ xôi làm rượu nếp ăn Tết,… Dù hình ảnh người vợ không được đặc tả kĩ càng, nhưng tâm tình, mong ước, tấm lòng của nàng lại đượm thơm trên từng trang giấy. Đọc tập kí, ta sẽ biết được sự cảm phục của nhà văn với người vợ của mình. Chính bóng hồng ấy đã mang lại nguồn cảm hứng dồi dào để Vũ Bằng thấy thấm thía và yêu hơn cái cảnh sắc và thức quà quê hương.

Tình yêu của ông với Hà Nội nói riêng và miền Bắc nói chung không xuất phát từ tư tưởng phiến diện, hạn hẹp trong biên giới quốc gia. Bản thân Vũ Bằng từng học trường trung học Albert Sarraut, lại có bằng Tú tài Pháp, nên ông có kiến thức rộng về văn hóa phương Tây. Chính ông cũng từng thú nhận thời trai trẻ của mình đã từng đề cao phương Tây văn minh “Tôi lên mặt bợm, cho tranh Đông Hồ “quê một cục” vì hằng ngày học sử Hy Lạp, tôi thường thấy những bức họa của Gauguin, Leonard de VInci… và tôi nghĩ rằng tranh như thế mới là tranh vẽ”. Nhưng rồi, trải qua bể dâu cuộc đời, con người ấy mới nhận ra tình yêu nóng bỏng với đất Việt “ Thôi trường ra, đi lang bạt nay đó mai đây, cái gì làm cho tôi nhớ nhất, ấy là cái Tết mà nhớ đến Tết, cái mà tôi không thể nào quên được, ấy là những bức tranh gà lợn”. Điều đó làm ta bất giác nhớ tới mình: Vì học trường tiếng, vì được tìm hiểu về những nền văn hóa lớn trên thế giới dễ làm chúng ta sính ngoại, coi thường những giá trị quê hương. Nhưng tình yêu quê vẫn thầm lặng chảy trong huyết quản, đợi đến một ngày, sau khi trải đời, nó sẽ cất thành lời thiêng liêng theo ta suốt cuộc đời dù là ở trên đất mẹ hay bôn ba bốn bể đi chăng nữa.

Một năm mới lại đến. Sống trong lòng một đất nước chuyển mình mạnh mẽ với quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa, chúng ta dường như có xu hướng đồng hóa với bên ngoài. Chính vì thế, ta lại càng phải đọc “Thương nhớ mười hai” nhiều hơn. Đọc để nhớ mình là người Việt Nam, đọc để khơi dậy lòng tự tôn dân tộc, đọc để tự hứa với mình trong năm mới này sẽ phải sống, phải tu dưỡng cái tâm, cái hồn như thế nào để không phụ lòng quê hương ôm ấp ta từ thuở lọt lòng.

Văn Thủy